Mộc mạc tình quê

Mộc mạc tình quê
Hồi tôi còn nhỏ hay coi hát bội hoặc cải lương của mấy đoàn hát nhỏ, họ đi trên ghe len lỏi vào những vùng quê phục vụ bà con trong dịp Tết hay cúng miễu, cúng đình. Mấy đoàn kha khá thì đào kép ban ngày tập tuồng, ban đêm biểu diễn; còn mấy đoàn nghèo thì ban ngày phải bươn chải những bằng công việc như thu mua phế liệu, bán thuốc sơn đông, thậm chí vá thùng, thau…


Hồi tôi còn nhỏ hay coi hát bội hoặc cải lương của mấy đoàn hát nhỏ, họ đi trên ghe len lỏi vào những vùng quê phục vụ bà con trong dịp Tết hay cúng miễu, cúng đình. Mấy đoàn kha khá thì đào kép ban ngày tập tuồng, ban đêm biểu diễn; còn mấy đoàn nghèo thì ban ngày phải bươn chải những bằng công việc như thu mua phế liệu, bán thuốc sơn đông, thậm chí vá thùng, thau… trông rất tội nghiệp, nhưng khi sân khấu sáng đèn thì họ trở thành những ông hoàng, bà chúa.


Tôi còn nhớ gánh hát về diễn ở sân đình cách nhà tôi một con kênh. Khoảng 5 giờ chiều là bà con nườm nượp kéo đến chọn chỗ ngồi gần sân khấu, họ đặt manh chiếu, cục gạch hay cái bao bố làm dấu. Khoảng 7 giờ tối thì mở màn, lúc này không ai bảo ai mà mọi người lặng im mắt hướng về sân khấu.

 


Thường thì các đoàn hát diễn các tuồng tích xưa, nhiều oan nghiệt, trắc ẩn bà con rất thích. Hôm bữa diễn vở “Phạm Công - Cúc Hoa”, khi tới đoạn hai đứa bé bị Tào Thị đánh đập rồi đuổi đi, tiếng thút thít, sụt sùi của các bà, các cô ngày càng rõ. Bỗng có một cánh tay giơ lên: “Tôi, Tám Điện ủng hộ 10.000 đồng”; kế tiếp một cánh tay khác: “Tôi, Sáu Chẩm ủng hộ 8.000 đồng”; “Tôi, Tư Lẹ cho 10kg gạo”… Trên sân khấu, “Nghi Xuân, Tấn Lực” cứ đi vòng vòng và ca tiếp những đoạn bi để nhận tiền của người hảo tâm, tới chuyển sang màn khác mà mấy bà, mấy cô còn chửi bới bà dì ghẻ độc ác.

 

Tư Lẹ là dì của tôi, về đến nhà dì vô sẵn bồng bột gạo rồi nói với tôi: “Mai tao đem tới gánh hát cho 2 đứa hồi tối”. Má tôi vừa tức cười, vừa thương dì Tư bởi cái tính rộng rãi, thương người, má chọc: “Người ta diễn tuồng chứ có phải đi xin thiệt đâu!”. Dì nói: “Tao biết chớ, nhưng thấy thương quá hà, nói cho là tao cho”.

 

Khi cánh màn nhung hạ xuống, kẻ giàu, người nghèo, kẻ ác, người hiền trên sân khấu đêm qua giờ là những con người lam lũ, họ sống trong những chiếc ghe nhỏ bé, chật chội. Họ đi chài, giăng lưới mang cá ra chợ bán. Ghe họ neo đậu nơi đâu thì bà con ở gần có gì cho nấy nào là rau củ, hành hẹ, cây trái… Ngoại tôi có tiếng là người nhân từ, ở xóm ai đau bệnh, hoàn cảnh ngặt nghèo hay tai nạn bất ngờ là ngoại tới, khi thì manh quần tấm áo, khi chai dầu gió, mùng mền, cơm gạo… Chiếc ghe hát đậu dưới bến đã mấy tháng nay cũng coi ngoại như người thân của mình, vì vậy mà tôi biết tên, quen mặt mấy ông vua, hoàng hậu, công chúa…

Bây giờ ít khi thấy ghe hát hoạt động bởi có biết bao thứ vui chơi, giải trí trên phương tiện truyền thông và Internet. Nhu cầu thưởng thức nghệ thuật được đáp ứng dư thừa, nhưng trong sâu thẳm của hồi ức, tôi vẫn thấy vương vấn âm thanh của sân khấu ngoài sân đình, nghe thương tiếng nỉ non của cô đào đóng vai quả phụ; nhớ những cánh tay giơ lên để “cứu trợ” 2 đứa trẻ mồ côi của chú Tám Điện, bác Sáu Chẩm, dì Tư Lẹ…; nhớ ông bà ngoại tất tả cứu người trong đêm tối… Ôi! cái tình, cái nghĩa ấy vẫn còn lấp lánh trong tâm tư tôi.

 

Theo: Bút Ngọc

 

Chia sẽ:

GỬI BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN