Nhơn trung hiếu đạo

Nhơn trung hiếu đạo
Từ xa có một luồng gió lạ/ Chợt se lòng buồn bã nao nao/ Bên hiên nghe tiếng rì rào/ Te tua tàu lá một màu xanh xanh/ Gẫm cuộc đời như manh như chỉ/ Vài mươi năm đúng lý chưa già/ Gẫm người, xét lại thân ta/ Suy đi, tính lại chẳng qua nấm mồ/ Chiều thanh vắng đơn cô một bóng/ Chiếc thuyền nan lướt sóng bon bon/ Bên giường hơi mẹ mỏi mòn/ Nghiệm xem cái đạo làm con thế nào?


 


LỜI GIỚI THIỆU

GS-NGND Hoàng Như Mai

 

Người Việt Nam chúng ta tôn trọng đạo Hiếu. Từ lúc con còn thơ ấu nằm trong nôi, Mẹ đã dạy con, bằng những lời ru: phải nhớ công ơn cha mẹ.


Công Cha như núi Thái Sơn

Nghĩa Mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ Mẹ kính Cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo Con

 

Tục ngữ ca dao của ta có rất nhiều câu khuyên răn về đạo Hiếu:


Cá không ăn muối cá ươn

Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư


Trong kiệt tác của dân tộc là Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du viết:


Làm con trước phải đền ơn sinh thành

 

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương khóc mẹ:


Ngôn ngữ trần gian túi rách

Đựng sao đầy hai tiếng Mẹ ơi

Văn tự chiếc xe mòn xọc xạch

Đường sang cõi Mẹ ngàn trùng xa khơi…

 

Đạo Hiếu được xem như đứng đầu trăm nết, điều này dễ hiểu. Trong gia đình, các con biết giữ đạo Hiếu thì gia đình hòa thuận. Trong ấm ngoài êm, có hạnh phúc trong cuộc sống, làm ăn thịnh vượng phát đạt.


Con cháu biết giữ đạo Hiếu thì cơ nghiệp của tổ tiên được duy trì, phát triển, dòng họ giữ được tiếng thơm.


Mỗi gia đình ví như một viên gạch xây dựng tòa nhà Tổ quốc: Nhà yên thì nước yên.


***


Xã hội Việt Nam được xây dựng theo mô hình gia đình; gia đình là một xã hội nhỏ, xã hội là một gia đình lớn.


Người trong nước gọi nhau là đồng bào có nghĩa là cùng trong một bọc. Ấy là theo truyền thuyết lịch sử: Ông tổ của dân tộc ta là Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, thụ thai đẻ ra một bọc có trăm quả trứng, nở ra một trăm người con, những người con ấy chia nhau cai trị lãnh thổ Việt Nam, đó là nguồn gốc các dân tộc hợp thành đại dân tộc Việt Nam. Đồng bào Việt Nam xưng hô với nhau theo quan hệ trong gia đình. Đối với các bậc cao tuổi thì thưa là Cụ, Ông, Bà; với người ít tuổi hơn thì xưng hô là Bác, Chú, Thím, Cậu, Mợ, Cô, Dì,… Với người bằng tuổi, ngang hàng thì gọi là anh, chị. Với người kém tuổi, bề dưới thì gọi là Em, là Cháu…


Cách xưng hô ấy xác định thứ bậc trên dưới, theo kỷ cương gia đình, người ta lấy tình gia đình mà đối xử với nhau.


Mọi người Việt Nam có chung một ông tổ là Vua Hùng. Mọi người Việt Nam đều là con cháu của Vua Hùng nên đều có họ hàng với nhau:


Trứng Rồng lại nở ra Rồng

Nghìn con muôn cháu noi giòng Lạc Long

……..

Năm năm mở hội Đền Hùng

Tiếng tăm lừng lẫy nức lòng gần xa

Nước non vẫn nước non Nhà

Hai mươi nhăm triệu vẫn là Anh Em.


Nhà, Anh Em, những từ ấy người Việt Nam nói về Tổ quốc, đồng bào một cách rất tự nhiên bởi vì trong tâm khảm chúng ta cũng nghĩ như vậy.


Đạo Hiếu là tề gia đồng thời cũng là trị quốc là vậy.


Tôi nhớ hồi còn trẻ thơ học lớp Đồng ấu được học một bài trong sách Luân lý giáo khoa thư như sau:


Em đi học để yêu ai?

Tôi đi học để yêu người gần xa

Gần như chú bác mẹ cha

Trước là anh chị sau ra họ hàng

Sau rồi đến cả lân bang

Tôi yêu tất cả người sang, người hèn

Bao nhiêu khách lạ, người quen

Cùng nhau có mặt ở trên địa cầu

Là tôi yêu chẳng xiết đâu!


Xin nói lời cảm ơn tác giả của sách giáo khoa đã dạy cho lũ trẻ thơ chúng tôi bài học của tình đoàn kết hữu nghị giữa con người với nhau trong cộng đồng nhân loại. Bài học Người trong bốn bể cũng là anh em ấy cần được ghi tạc vào những tâm trí chúng tôi ngay từ lúc còn hồn nhiên trong trắng, để sau này lớn lên biết chung sống hòa hợp với các quốc gia dân tộc trên thế giới để duy trì và phát triển nền văn minh nhân loại.


Đạo Hiếu cao cả xiết bao, sâu sắc xiết bao ! Đạo Hiếu là một dấu son tươi thắm trong truyền thống văn hóa đạo đức của dân tộc Việt Nam.


***

   

Nhưng ít lâu nay, nhiều người đã phải băn khoăn đặt câu hỏi: phải chăng vì những nguyên nhân chính trị, kinh tế nào đó, đạo Hiếu ít nhiều bị phôi pha, quên lãng ở một số người, đã xảy ra những hiện tượng đáng chê trách và phải làm gì để chấn chỉnh lại tình trạng ấy.


Ý tưởng này đã đến với tác giả cuốn sách Nhơn trung hiếu đạo.


Từ xa có một luồng gió lạ

Chợt se lòng buồn bã nao nao


……..


Chiều thanh vắng đơn côi một bóng

Chiếc thuyền nan lướt sóng bon bon

Bên giường hơi mẹ mỏi mòn

Nghiệm xem cái đạo làm con thế nào?

 

Tác giả không muốn làm ra một cuốn sách giáo huấn gồm những lập luận cao siêu, những bài học nặng tính mệnh lệnh. Nói đến những hiện tượng sai trái,  tác giả không dùng những lời lẽ phê phán nặng nề, không quy kết gay gắt. Cuốn sách này chỉ là những câu trò truyện thân mật, những lời khuyên nhủ ân cần, những điều trao đổi bình đẳng.


Tác giả kể những câu truyện được lưu hành trong dân gian để người nghe tự rút ra những vấn đề phải suy nghĩ.


Tác giả dùng lối thơ song thất lục bát là một lối thơ thuần túy Việt Nam, thường dùng để trao đổi tâm tình, giãi bày tâm sự. Đôi khi tác giả xen vào đúng chỗ những câu ca dao, những câu hát phổ biến trong dân gian.


Thái độ của tác giả là thân mật, chân thành, ân cần “trị bệnh cứu người” :


Đời này danh lợi phủ che

Ít ai chịu học, chịu nghe thánh hiền

Người vì bạc vì tiền, mất đạo

Người vì cơm vì gạo mất lòng

Đời này đạo đức khó trồng

Cây oan, cây trái đầy đồng oan gia

Nên khổ bậc làm Cha làm Mẹ

Nên con là con trẻ hung hăng

Con vì manh áo miếng ăn

Con vì ích kỷ, tham sân đủ điều

Đời “tiến bộ” sao con xa mẹ,

Đời “văn minh” sao dễ mất cha !?

Ta vì quyền lợi riêng ta

Biết đâu cha mẹ thêm già vì con

Đời buông thả chẳng còn phước đức

Có tiền nhiều mặc sức ăn chơi

Mặc cho cha mẹ lệ rơi

Thấy con lún xuống tận nơi đáy bùn…


…….


Tôi được người bạn đưa cho đọc cuốn sách này. Tôi thấy đây là một tấm lòng tha thiết vì “nhân tâm, thế đạo” nên có mấy lời giới thiệu với những bạn “thanh khí”.

 

*******************************

 

  NHƠN TRUNG HIẾU ĐẠO

-------------------

 

Từ xa có một luồng gió lạ

Chợt se lòng buồn bã nao nao

Bên hiên nghe tiếng rì rào

Te tua tàu lá một màu xanh xanh

Gẫm cuộc đời như manh như chỉ

Vài mươi năm đúng lý chưa già

Gẫm người, xét lại thân ta

Suy đi, tính lại chẳng qua nấm mồ

Chiều thanh vắng đơn cô một bóng

Chiếc thuyền nan lướt sóng bon bon

Bên giường hơi mẹ mỏi mòn

Nghiệm xem cái đạo làm con thế nào?

 

Chỉ một giấc chiêm bao là hết

Nửa cuộc đời chênh chếch ánh trăng

Thoáng buồn da mặt đã nhăn

Chân chim in dấu mấy lằn thu phong

Cuộc đời người long đong sớm tối

Biết bao năm tội lỗi có thừa

Chừng già bên áng song thưa

Kiểm xem đã được hay chưa an lòng?

Cha mẹ già đèn trông trước gió

Ánh lập lòe mờ tỏ giáng thăng

Công lao cha mẹ nhọc nhằn

Nuôi con khốn khó mấy lần cù lao

Tình cha mẹ làm sao nói cạn

Con thờ ơ ngao ngán lòng già

Ngồi trông những buổi chiều tà

Cháu con biền biệt chắc là đi xa

Niềm cô đơn xót xa đoạn ruột

Nhìn trời xanh trong suốt chín tầng

Mẹ, cha cực khổ muôn phần

Làm con có liệu hồn thần xét suy?

 

Chuyện làng bên lâm ly thương cảm

Có bà già tuổi tám mươi dư

Nhăn nheo vẻ mặt nhân từ

Con chừng cả chục - gia tư đủ đầy

Con trai út đắp xây gia thất

Bà tuổi già lây lất bên con

Của tài xưa chất tựa non

Bà giao cho hết chẳng còn một xu

Bà già rồi quyết tu theo Phật

Sớm với chiều phảng phất khói hương

Nhưng bà gặp chuyện oan ương

Thằng con ăn nhậu trăm đường trót hư

Trong mấy năm từ từ hết của

 Mê số đề, gạo lúa sạch trơn

Chẳng cần tính thiệt tính hơn

Nuôi bà sợ khó, bội ơn đuổi bà.

Vợ chồng nó kêu ca nghèo túng

Bà càng già, bệnh cũng liên miên

Con dâu chửi xéo chửi xiên

Bà buồn tự tử qui tiên cho rồi.

Chắc hồn thiêng bà ngồi bên mộ

Khóc sụt sùi thố lộ cùng ai?

Đáy sâu lạnh ngắt quan tài

Chuyện đời bạc bẽo bao ngày kiếp sinh.

 

Con bất hiếu phụ tình cha mẹ

Hỏi trên đời mấy kẻ được nên?

Người khinh chẳng muốn nhắc tên

Chết đi hồn phách kề bên ngục tù.

Công cha mẹ nghìn thu ghi tạc

Dầu thân này sống thác khó đền

Tròn câu hiếu đạo thì nên

Mất câu hiếu tử than rên muộn rồi!

Ở cuộc thế vàng lôi tiền dắt

Mê tiền, tình mờ mắt người ta

Hỏi rằng ai đẻ mà ra

Cái thân tự có hay là của ai?

Người nên vóc nên vai mạnh khỏe

Nhớ ai kia sanh đẻ ra mình

Cũng trong cái cục máu tình

Thiêng liêng mẫu tử, đẹp xinh phụ từ.

 

Trong kiếp trước vô tư ta đến

Hay nợ nần cảm mến ghé thăm

Hương bay theo gió thì thầm

Nghiệp cùng tương hợp chẳng lầm chẳng sai.

Gần mười tháng mang thai nặng nhọc

Có kể ra, dạ ngọc thêm đau

Vợ chồng lòng ước dạ ao

Có con nối dõi trước sau tông đường.

*Tháng thứ nhất: cảm thương thai nghén

Mẹ bỗng dưng chợt kén đồ ăn

Vui buồn chẳng muốn nói năng

Thèm chua thèm ngọt, khó khăn quá chừng !

Biết mang thai, mẹ mừng trong dạ,

Gương mặt cha khác lạ hay cười

Hân hoan như đóa hoa tươi

Con còn trong bụng đủ mười tính toan …

*Tháng thứ hai: một hòn máu đỏ

Chợt tượng hình nho nhỏ phần đầu

Thai hành thức suốt canh thâu

Phần cha âu yếm xoa bầu vỗ an.

Thân mẹ gầy vì mang thai nghén

Khi nửa đêm còn lén thèm ăn

Giựt mình chẳng dám cằn nhằn

Cha thương con dại, ai bằng tình thâm !

*Tháng thứ ba: con nằm co quắp

Tay và chân ôm ấp quả tim;

Lấy tay rờ bụng hằng đêm,

Mẹ thầm ao ước những niềm đẹp xinh.

Vái Trời Phật bi tình độ hộ

Con mặt mày ngồ ngộ tinh anh

Cha thì rối rít vây quanh

Lắng nghe con thở nhẹ manh đều đều…

*Tháng thứ tư: thấy điều hơi nặng,

Bụng lớn lên, chân cẳng mọc dài

Mẹ ăn thì phải bằng hai

Vừa nuôi thân mẹ, vừa thai rút bòn.

Tình mẫu tử lòng son tạc để

Trong bào thai khó dễ đủ điều

Chờ ngày nhìn ngắm con yêu

Ráng ăn đủ chất chắt chiu thai hành.

*Tháng thứ năm: lớn thành hình vóc,

Ở phần đầu có tóc mọc ra

 Nằm trong lòng mẹ thiết tha

Mang thai nặng nhọc, con đà biết chi?

Riêng phần mẹ, đứng, đi hơi khó

Luôn nhẹ nhàng sợ nó còn non

Tình nào bằng mẹ thương con

Từng ly bảo vệ cho tròn những mong.

*Tháng thứ sáu: trong lòng ấp ủ,

Sợ con đau, khi ngủ mẹ nằm

Lăn qua nhè nhẹ lặng thầm

Lấy tay xoa bụng xa xăm dỗ dành.

Riêng thân mẹ cam đành khó chịu

Da xanh xao bảo bọc cho con

Gân xanh nổi những dặm mòn

Mặt mày hốc hác mẹ còn vui riêng.

*Tháng thứ bảy: phải kiêng phải cữ

Đi, nằm, ngồi nhiều dữ ít lành

Con khờ có đứa quá lanh

Đạp vào hông mẹ, điếng xanh cả hồn!

Con mấp máy cha hôn bên bụng

Ngày từng ngày đợi cũng qua mau

Thời gian như gió thổi ào

Cha đi làm lụng kiếm sao nhiều tiền.

*Tháng thứ tám: mẹ hiền não ruột

Con đủ đầy lại chuốc điều hư

Đạp đi quậy lại nhã nhừ

Con sao con lại vô tư thế này?!

Trong bào thai tháng ngày đen tối

Nằm khó khăn tìm lối nhẹ hơn

Mẹ cha khốn khó từng cơn

Mong ngày xổ dạ chẳng sờn bao phen.

*Tháng thứ chín: rối ren đủ thứ

Con chào đời lành dữ khó phân

Áo quần, tã lót, nệm chăn,

Giường nằm, than củi, thức ăn lo lần.

Còn thân mẹ muôn phần nặng nhọc

Tay chân sưng, tim óc mỏi mòn

Khớp đau, gối mỏi vì con

Từng cơn oặn ruột, lòng son rã rời.

*Tháng thứ mười: cầu Trời khấn Phật,

Ngày khai hoa cho thật bình an

Bàn thờ cha đốt hương nhang

Mẹ đau bụng đẻ, cha càng quẫn thêm.

Cơn đau dữ thót tim quằn quại

Vào phòng sanh, cha lại ngóng trông:

Đi đi lại lại ngàn vòng

Tiếng rên của mẹ - đau lòng của cha!

Ở trong bụng, con đà khó thở

Quyết vẫy vùng hoa nở nhụy khai

Đạp vào hông mẹ tím mày

Ái hà chui thẳng ra ngoài sáng choang.

Xé lòng mẹ sanh con đau buốt

Huyết dầm dề, như cuộc máu loang

Tinh cha, huyết mẹ hao mòn

Tạo ra hình vóc của con thế này.

Tuy đau đớn một ngày kinh khiếp

Mẹ vui mừng khi kịp nhìn con

Đứa này mặt phấn môi son

Sản sinh: con, mẹ vuông tròn - cha vui…

 

Phàm làm người tới lui cõi tạm

Phận làm con ai dám quên công

Thân người ai cũng có giòng

Có nguồn, có cội, tổ tông, ông bà.

Ấy vậy mà người ta nỡ phụ

Quên những ngày máu mủ tượng hình

Nói ra động chút bi tình

Mẹ già chẳng biết con mình phải không ?

Có bà mẹ thoáng trông tám chục

Chồng mất lâu, đơn độc thân bà

Nghèo nàn chẳng có cửa nhà

Sanh con được bốn gái và một trai

Có gia thất, bằng nay đầy đủ

Riêng thân bà chẳng trú được đâu

Con trai thì sợ con dâu

Gái thì sợ rể câu mâu của tiền

Nuôi bà già sợ phiền sợ lụy

Đùn đẩy nhau đấu lý nhường nhau

Chia ra đứa trước đứa sau

Tới bà ngã bệnh đứa nào dám nuôi ?

Thấy con cái không vui gia thất

Một mình bà quyết cất ở riêng

Thân già chẳng có của tiền

Đi làm lặt vặt hằng niên qua ngày.

Thương tuổi hạc lung lay bóng xế

Đêm từng đêm bóng quế lập lòe

Ve sầu rên rỉ lắng nghe

Cô đơn mấy chặng ai dè được sao!

Khổ cái cảnh tuổi cao sức yếu

Có người đời đàm tiếu lũ con

Ngàn năm lòng mẹ chẳng mòn

Biển hồ lai láng nuôi con trưởng thành.

Nay con dại mọc nanh mê của

Nuôi bà già gạo lúa là bao?

Mà còn tính thấp tính cao

Nuôi bà mấy bữa tốn hao quá nhiều.

Được hàng xóm chắt chiu trợ dưỡng

Cuộc đời bà những tưởng đã tàn

 Năm canh giấc ngủ mơ màng

Ru con khúc hát đá vàng hắt hiu:

“Gà lạc mẹ liu chiu lít chít

   Nít lạc mẹ, nít khóc tu oa” 

Ngoài đồng nắng cháy lưng cha

Con còn bú mẹ giấc ngà nồng say

Bàn chân cha đã chai từng cục

Tủi thân cò lặn hụp kiếm cơm

Con nằm chăn ấm nệm ôm

Gánh hàng mẹ bán, lưng còm đường xa…

Nghe khúc hát ngân nga chiều vắng

Tiếng oan trường văng vẳng từng cơn

“Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

         Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”

“Còn cha gót đỏ như son

      Đến khi cha mất, gót con nhuộm bùn”.

Bỗng một hôm, đời cùng đã đến

Cơn bệnh già hổn hển tàn hơi

Bên giường bà lão lệ rơi

Đau không thang thuốc, khắp nơi đượm buồn.

Đêm lạnh ngắt gió luồn khe cửa

Màu thời gian ánh lửa chập chờn

Tử thần đã giục tiếng đờn

Thu hồn bà lão trong cơn mệt lừ.

Phút ra đi từ từ tiễn biệt

Ôm nỗi sầu tha thiết thế nhân

Giận con hay lại giận thân?

Bà cười cõi tạm nghĩa nhân mơ hồ.

Đám ma bà tiền hô hậu ủng

Nó đâm heo đến cũng năm ba

Đứa thì gào khóc kêu la

Đứa thì kể lể xót xa quá chừng.

Tiền cúng nhiều nó mừng khấp khởi

Thỉnh thầy về nó gởi hồn linh

Mặc thầy trì chú, tụng kinh

Nó đi tiếp khách để rinh của tiền.

Chúng giành nhau quản xiên hậu sự

Chẳng bằng lòng, cự nự rùm beng

Bạc xà chập chập cheng cheng

Lữ hành viễn khách ngợi khen “hiếu từ” (?)

Che mắt thế, hiếu như thùng bể

Bà chết rồi kể lể nực cười

Mùa xuân thơm ngát hoa tươi

Có ai biết được trong người thúi hôi.

Đó những kẻ bẩn tồi hèn hạ

Xin ai đừng mặt nạ noi theo

Đời ta như gió khẽ vèo

Hành bao ác nghiệp, quả theo bên mình!

Thấy cảnh thế thua tình loài thú

Lòng quỉ ma còn trú nơi tâm

Đạo Nhân đã héo cái mầm,

Theo tiền, danh, lợi…, mãi lầm lạc thôi!

 

Trời thanh vắng, ta ngồi suy tưởng

Lũ chim non nhắm hướng đợi chờ

Mẹ đi bươn chải bụi bờ

Kiếm mồi nuôi trẻ hàng giờ nhọc công.

Thấy lũ cá ròng ròng dưới nước

Mẹ luôn theo trông trước trông sau

Gặp nguy, mẹ ngậm con vào

Hết lòng bảo bọc làm rào cản ngăn.

Nhìn trên cành ánh trăng bàng bạc

Lũ dơi đùa khúc hát đường xa

Ôm con dưới bụng là đà

Bỏ trong cái túi như là của riêng.

Kìa mẹ gà quá siêng bươi xới

Nuôi đàn con đào bới tìm mồi

Dế trùng nhường lại con ôi !

Mẹ thân gầy yếu mây trôi qua đầu.

Tổ dòng dọc dãi dầu mưa nắng

Đứng đu đưa mấy chặng tuyết sa

Thâm tình của một người cha

Trông con, trông vợ tháng qua ngày dài.

Tuy hùm dữ xưa nay khét tiếng

Khi kiếm tìm được miếng mồi ngon

Mẹ hùm nhường lại cho con

Con no, mẹ mới gặm bòn khúc dư.

 

Lòng thương cảm khá khen loài vượn

Tình mẫu thân khắp hướng hương bay

Công dầy cha mẹ xưa nay

Động lòng trắc ẩn của ai đoạn trường.

Có câu chuyện đáng thương loài thú

Một gia đình có đủ ba con

Vượn chồng, vượn vợ sắt son

Trên tay còn ẵm con non bú nhè…

Người thợ săn bỗng nghe chí chít

Cành cây run xúm xít có ba

Lắp tên nhắm thẳng buông ra

Vượn kia thọ tiễn kêu la thảm sầu.

Miệng ngậm chặt vào bầu sữa mẹ

Thân vượn run sắp té xuống cành

Xa con, lòng mẹ không đành

Nhỏ hai dòng lệ chảy quanh ướt đầm.

Tay run run lặng thầm vượn mẹ

Trao con khờ thỏ thẻ rên rên

Vượn cha ôm trẻ kề bên

Hiểu rằng vợ đã trúng tên khổ nàn.

Trao con xong, ngỡ ngàng rơi xuống…

Người thợ săn luống cuống chạnh lòng

Thảm thương cám cảnh trần hồng

Trước giờ ly biệt còn bồng trao con.

Người thợ săn héo hon tấc dạ

Thú mà còn rộng dạ đượm tình

Trở về giải nghệ lặng thinh

Đổi nghề lương thiện, trải tình mười phương.

Loài thú vật tri lương còn đó

Huống chi người chẳng có đạo nhơn

Ai ơi! đừng tính thiệt hơn,

Nuôi cha nuôi mẹ chớ sờn điều chi!

 

Dạy con hiếu có khi chẳng nói

Hành động ta sớm tối làm gương


Mẹ cha ôm ấp tình thương

Lòng ta hiếu thảo dọn đường dạy con.

 

Thuở xa xưa người còn ngu dốt

Mẹ cha già như cột mục chân.

Người già tốn sức đỡ nâng

Chỉ là phí của muôn phần tốn hao.

Gia đình nọ ở vào thời đó

Cha mẹ già, chẳng có của dư

Vợ chồng toan tính đẩy đưa

Định đem cha mẹ bỏ bừa núi xa

Chồng đan giỏ nan già cứng chắc

Bỏ hai người quẩy phắt lên non

Rời nhà, từ giã vợ con

Tiếng la kêu nội vẫn còn vang vang.

Cha ơi cha ! nhớ mang cái giỏ

Đem về nhà chớ bỏ giữa đường!

Làm chi con nói tỏ tường?

Thằng con nhỏ dại đáng thương nói rằng:

Khi cha mẹ da nhăn, già yếu

Con bỏ vào để điệu lên non

Người cha lòng dạ héo hon

Bừng tâm tỉnh ngộ, chân còn run run.

Để gánh xuống, đập tung cái giỏ

Lạy mẹ cha, con nhỏ lòng ngu

Tình cha, nghĩa mẹ thiên thu

Dẫu cho già yếu, lời ru còn hoài…

Dù có tốn của tài phụng dưỡng

Đạo làm người còn hưởng phước dư

Tấm lòng cha mẹ vô tư

Mà con tính toán coi như món hàng!?

Tiền có mất dễ dàng kiếm lại

Cha mất rồi, thân tái rã tan

Dẫu cho lệ đổ muôn hàng

Ăn năn sám hối muộn màng tiếc thương.

 

Trời hoàng hôn bốn phương bao phủ

Người bên ta trọn đủ một đời

Lúc thì trồi hụp chơi vơi

Lúc thì danh vọng thảnh thơi đủ đầy.

Cha với mẹ là thầy trước nhất

Ngày lại qua chồng chất tuổi cao

Dạy con kinh nghiệm trước sau

Tiếng khôn tiếng dại biết bao công trình!

Trời ửng đỏ, bình minh tỏ rạng

Lời ru ai trút cạn khối tình

Ngân dài trời đất rộng thinh

Cha già như đám lục bình đang trôi.

Mùa thu sang, mẹ tôi thêm tuổi

Mẹ già đi theo chuỗi nhân thân

Ngày tôi xa mẹ càng gần

Nhăn nheo trên trán mấy vầng tuyết sương.

Biết như thế, tình thương chia sẻ

Con vẫn tin tuổi trẻ mẹ còn

Chân chim xẻ mấy dặm mòn

Lưng còm gối mỏi, lòng son rạng ngời.

Con sợ lắm cuộc đời bất chợt

Như vầng trăng đùa cợt với mây

“Mẹ già như trái chín cây

    Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi” 

Lúc mồ côi ai ôi ! thật khổ

Khi con buồn, ai chỗ tựa nương?

Âm dương chia cách đôi đường

Gà con lạc mẹ, lầm đường trót hư.

Lời di huấn tâm thư tiền bối

Lấy chồng gần chớ vội lấy xa

“Mai kia cha yếu mẹ già

    Chén cơm đôi đũa, kỷ trà ai dâng?”

Nợ cha mẹ cái thân ta đó

Đừng quên đi cái ngõ nhà xưa

Con sông, bến nước, hàng dừa

Miền quê của ngoại sớm trưa dãi dầu.

Yêu quê hương hát câu nhớ nội

Dòng sông quê bơi lội hôm nào

Cô kia má phấn môi đào

Anh chàng quân tử trước sau hiếu hiền.

 

Phú hộ nọ mất tiền bởi trộm

Vài năm sau, vợ chốm sanh con

Mặt người trắng trẻo môi son

Anh chàng mau lớn vai tròn lưng vuông.

Người siêng năng luôn luôn làm việc

Cho đến khi sức kiệt mỏi mòn

Tắt hơi thân ấy đâu còn

Nghiệp chi bà mất đứa con trẻ khờ?

Truyện kể rằng: ai ngờ kiếp trước

Gia đình kia chỉ được một trai

Mẹ già cực khổ đắng cay

Cảnh nhà nghèo khó tháng ngày trầm kha.

Một ngày kia bà già bỗng mất

Nhà nghèo nàn chôn cất khó đa

Tính gần rồi lại tính xa

Mười phần thương mẹ, anh ta làm càn.

Đi ăn trộm bên làng phú hộ

Được trăm đồng anh cộ hàng rương

Ma chay chôn cất tỏ tường

Ai ngờ thương mẹ, lầm đường trả vay.

Vài năm sau, anh này bỗng mất

Đầu thai nơi gia thất phú ông

Trả đi món nợ trăm đồng

Muốn tròn chữ hiếu vướng vòng trái oan.

Có lòng hiếu, ta càng phải tránh

Tròn hiếu nên xa lánh đường tà

Thương lòng hiếu đạo anh ta

Nhưng câu hiếu ấy thật là không nên!

 

Vẳng tai nghe tiếng rên bà mẹ

Thoáng nhìn qua còn trẻ, xanh xao

Lâu lâu bà lại khóc gào

Quan tài con gái phủ màu khói nhang.

Người cha hiền mắt tràn lệ ứa

Nhìn ảnh con độ nửa chừng xuân

Lâu lâu dòng lệ rưng rưng

 Con vừa đôi tám cha mừng, mẹ lo

Con đua đòi tiền cho chẳng đủ

Sớm với chiều theo lũ ăn chơi

Gái trai bỏ học, đua đời

Đòi mua xe mới theo thời ngoại lai.

Mẹ từ chối, nó nài nó nỉ

Cha nó la, nó hí nó nghinh

Tiền cha chẳng đủ thiệt tình

Nó ôm oán hận, liều mình làm nư.

Uống thuốc độc giã từ cõi thế

Hận mẹ cha, khó thể tội dung

Màn đêm tiếng trống thùng thùng

Tiếc thương mấy kẻ cười chung mấy lời !?

Cha với mẹ lệ rơi sầu khổ

Hành động này vạn cổ cười chê

Hồng trần phủ một giấc mê

Thân cha mẹ tạo, chớ hề coi khinh!

Chắc bây giờ hồn linh sám hối

Quỷ môn quan bóng tối bao trùm

Hai tay ôm lấy gông cùm

Tiếc thương tủi phận hang hùm đã vô.

Thấy ân hận nấm mồ xanh cỏ

Nhìn mẹ hiền tóc xõa nhớ nhung

Nuôi con mấy chặng thẳng dùng

Khó khăn bao lượt chập chùng niềm đau.

 

Nhà kế bên tường cao lồng lộng

Trời hoàng hôn tỏa bóng mái vòm

Vợ chồng già cả lưng còm

Làm chi giàu có chiều hôm thanh nhàn?

Tay mấy chiếc nhẫn vàng lấp lánh

Niềm cô đơn hiu quạnh vợ chồng

Suy tư bao chặt đáy lòng

Nhớ thương sâu thẳm khiến ông thở dài.

Con gái ông đêm này có nhớ ?

Phương trời xa mấy thuở thăm nhà

Cảnh nghèo cơ cực mẹ cha

Quanh năm đói khổ xót xa chạnh lòng.

Quyết hy sinh theo dòng đời bạc

Cô theo chồng với bác Đài Loan

Cô thì má phấn môi son

Chồng cô bảy chục của còn tiền trăm.

Trời Đài Bắc xa xăm diệu vợi

Đếm thời gian theo sợi nhện giăng

Lũ cò lúc sáng đi ăn

Chiều về la lả dưới trăng quây quần.

Nơi xứ người tấm thân ở đợ

Đi kiếm tiền làm vợ người ta

Tiếng Tàu “một chữ bẻ ba”

Người quen chẳng có như là kẻ câm.

Đổi cái chuyện ăn nằm kiếm bạc

Gởi về nhà đương đát gấm nhung

Làm con cực khổ lao lung

Hy sinh trả hiếu mấy cung đàn buồn.

Hai cô gái hai luồng tư tưởng

Nhìn bên ngoài hình tướng giống nhau

Hỏi ai lòng dạ thanh cao

Ai vì cha mẹ đẹp sao tấm lòng?

Nuôi con đến lưng ong ngực nở

Bao nhọc nhằn trăn trở lòng cha

Làm người phải biết lo xa

Đừng làm mang tiếng mẹ cha với đời.

Ai cũng có một thời tuổi trẻ

Ai đã từng làm mẹ làm cha

Đau lòng của mẹ đẻ ra

Biết bao đáp đặng công cha cao dày.

Khi sanh  nở nhuốm nhầy máu mủ

Mẹ nằm than cho đủ ấm lòng

Thấy con đỏ hói khó bồng

Cha nâng nhè nhẹ, vợ chồng lăng xăng.

Nào tã lót, miếng ăn, thức uống

Giặt đồ dơ luống cuống tập tành

Tuy ghê, cha cũng cam đành

Thương con, thương vợ trời xanh chứng lòng.

Con khóc đêm, vợ chồng không ngủ

Dỗ dành cho con đủ giấc say

Mong sao hết tháng hết ngày

Mong con mạnh khỏe, mặt mày đẹp xinh.

Lúc con lật, mẹ rinh để lại

Lúc con trườn, cha ngại bụng đau

Con bò, nhìn trước nhìn sau

Sợ rơi xuống đất, đỡ mau nhẹ nhàng.

Đi chập chững, cha mang, mẹ đỡ

Luôn bên con, lo sợ té đau

Nhai cơm, mẹ đút muỗng nào

Bao nhiêu hạt gạo nghẹn ngào bấy nhiêu.

Luôn quấn quýt, mẹ yêu, cha mến

Mẹ là thầy mang đến đầu tiên

 Từng câu bập bẹ thường xuyên

Tập theo nói đớt, cha hiền mớm con.

Cha nặng nhọc lo tròn cơm gạo

Mẹ vui vầy con thảo hiền ngoan

Ngoài đồng nắng cháy chang chang

Thân cò lặn lội bên làng, ven sông.

Kể sao xiết đêm đông lạnh ngắt

Con đái dầm ướt mặt chiếu loang

Nơi khô nhường lại cho con

Mẹ nằm chỗ ướt, thân còn lạnh run.

Khi con bịnh kiết hung chưa rõ

Mẹ kề bên, mờ tỏ ánh đèn

Ngoài trời dày đặc đêm đen

Cha còn thao thức rối ren trăm phần.

Lo ăn học mấy lần mẹ dắt

Lo áo quần cặp sách đón đưa

Ở trường, thầy dạy sớm trưa

Về nhà, mẹ dạy chuyện xưa cổ truyền.

Truyện cổ tích lời nguyền còn đó

Giống Rồng Tiên con có hiểu không?

Dân ta có giống có dòng

Từ thời thượng cổ con Rồng cháu Tiên.

 Ai cũng có cửu huyền thất tổ

Gìn nghĩa nhân kim cổ nối dòng

Làm con - nhớ đến cha ông,

Làm con - báo hiếu cái công sanh thành!

 

Con gắng học chớ đành bỏ lãng

Chớ ham chơi, chớ cạn nghĩa tình

Bạc tiền, quần áo, công trình

Mười hai năm học thiệt tình dày công.

Bởi nắng cháy long đong sương sớm

Bởi mưa chiều thân ốm da nhăn

Mặt cha có mấy vết hằn

In sâu trán mẹ mấy lằn thời gian…

Con trưởng thành lại càng lo lắng

Lập gia đình ngay thẳng đỡ nương

Đem lòng bát ngát tình thương

Cháu con nội ngoại đêm trường còn lo.

Cha mẹ già nằm co khó ngủ

 Nhớ thằng hai chưa đủ miếng ăn

Thằng ba còn lắm nhọc nhằn

Con tư con tám chưa bằng chị, anh.

Lòng cha mẹ cao thanh vậy đó

Mà các con biết tỏ cùng chăng?

Hay là giành giựt miếng ăn

Mất tình huynh đệ khó khăn dường nào.

Chỉ có cái tường rào tranh cạnh

Mặc tình cha đói lạnh đâu màng,

Người đời ham thích bạc vàng

Quên tình cốt nhục, tương tàn mẹ, cha.

Đừng để lúc xót xa đã muộn

Mẹ mất rồi! oan uổng tiếc thương?

Đừng than con đã lạc đường

Mẹ cha có một - vô phương kiếm tìm!

 

Có câu chuyện cổ kim muối xát

Tình phụ từ ngọc nát vàng tan


Chuyện đây ở chốn cung vàng,

Vào thời Đức Phật, ông hoàng Bình Sa

Có đứa con là A Xà Thế

Mê tước quyền, lập kế cướp ngôi

Lợi, danh hai chữ bẩn tồi

Âm mưu bại lộ, nay ngồi than van.

Thấy con thích ngai vàng oan trái

Vua Bình Sa nhường lại cho con

Lên ngôi, tâm ác hãy còn

Nhốt cha vào ngục mỏi mòn thân sanh.

Bỏ đói khát sao đành, nghịch tử?

Cấm người thăm cô lữ lạnh lùng

Sai người cắt cả gân cùn

Tàn hơi kiệt sức lâm chung ngục đày.

 

Vua Xà Thế mặt mày sáng rỡ

Nghe vợ mình sanh nở nam nhi

Con đầu chẳng có mấy khi

Lòng cha nơm nớm ly kỳ trong tâm.

Nỗi mừng vui âm thầm khó giấu

Lòng hân hoan ai thấu tâm tình

Nhanh chân đến hỏi mẹ mình

Khi con sanh nở sự tình cha sao?

Lòng nặng trĩu niềm đau, mẹ kể

Con chào đời khó thể tả nên

Cha thì túc trực ở bên

Chăm lo từng tí chăn mền một tay.

Con một hôm trên tay nổi mụt

Sợ con đau, cha nút nhẹ nhàng

Nào là máu mủ nước vàng

Nuốt vào trong bụng tanh loang chẳng nhồm.

Khi nghe qua lồm cồm đứng dậy

Mặt nhà vua bỗng thấy tối tăm

Mắt nhìn vào chốn xa xăm

Cha hiền nhân đức - ta tầm khó ra.

 Quân ! hãy tha người cha yêu quí

Để ta quỳ thủ thỉ xin Người

Trò đời quái ác mỉm cười

Ông đà tắt thở hơn mười phút qua.

Vua bên xác người cha yêu dấu

Lòng ăn năn có thấu trời xanh

Người là một đấng cha lành

Ăn năn quá muộn: con thành sát nhân…

Bài học đó vang rân hậu thế

Khi làm gì ! khó dễ nghiệm suy

Lúc nằm, lúc đứng, lúc đi

Công lao cha mẹ chớ bì so đo.

Con sổ mũi lò sò cha nút

Sợ con đau miệng hút nhớm nhầy

Của tiền, danh lợi trần này

Sao bằng tình mẹ với bầy con thơ!

 

Cha mẹ còn, làm lơ chẳng đoái

Lúc chết rồi, sớm tối mồ côi

Nhà dì mẹ ghẻ con ôi!

Lòng thương chẳng có thiệt thòi buồn hiu

“Mẹ gà con vịt chắt chiu

 Mấy đời mẹ ghẻ lại yêu con chồng”

Cha mẹ ghẻ mấy dòng lệ đổ

Con trẻ khờ thố lộ cùng ai

Trẻ thơ đôi tiếng thở dài

Mất cha mất mẹ - đắng cay đủ điều.

Gánh kẽo kẹt đường hiu gió hắt

Nỗi nhọc nhằn nẻo tắt quanh co

Nửa đêm con dại ngủ khò

Cha còn tính toán liệu lo chuyện đời.

Con đi học vui chơi bè bạn

Mẹ ngoài đồng bùn cạn lấm lem

Giở rèm ngẩng mặt lên xem

Bức tranh gia quyến anh em ông bà.

 

Có cô dâu ở nhà bên cạnh

Thuộc tướng người đỏng đảnh bất nhơn

Trong lòng chỉ biết thua hơn

Bày mưu tính kế quên ơn cha chồng.

Sao có người tấm lòng đen bạc

Biết cha chồng tuổi hạc đã cao

Mà cô lại nỡ lòng nào

Xúi chồng ruồng bỏ, sang giàu ích chi?

Cha mẹ chồng chi li từng tí

Từng miếng ăn ích kỷ tính thầm

Thuốc men cho đến ăn nằm

Để cho thiếu thốn mặt lầm bạc đen.

Bàn với chồng một phen này nữa

Cha đã già mấy thuở bên con

Nay ông sức khỏe hãy còn

Bảo ông đến ở nhà con từng người.

Chúng nạnh nhau rập rười đùn đẩy

Làm thân già chợt thấy tủi buồn…

Con dâu nó diễn vai tuồng

Lập mưu thoái thác rập khuôn bạc lòng.

Nó không nghĩ người chồng ai tạo?

Tài sản này của báu công ai?

Đời ông cực khổ tháng ngày

Nay già của cải bạc tài cho con.

“Gió năm non thổi lòn hang chuột

   Nhớ con khờ đứt ruột đứt gan”

Dò sông xem thử mấy gang

Đố ai lấy thước đo sang lòng người !?

 

Chàng rể nọ biếng lười quá đỗi

Người nhỏ nhen sớm tối nhậu hoài

Cũng làm có chút của tài

Bỗng cha mẹ vợ một ngày sang chơi.

Sợ cha mẹ đến nơi xin của

Nên anh chàng chửi rủa vợ mình

Thăm con nhớ bóng mong hình

Thương con, thương cả khối tình, hỡi ai!

Cha với mẹ đâu nài khốn khó

Bên vợ, chồng: hai ngõ dĩ đồng

Trăm năm nơi chốn bụi hồng

Cái tình bên vợ bên chồng như nhau.

Cha mẹ chồng trước sau lắm nợ

Cha mẹ vợ nặng tợ Thái Sơn

Con ơi ! khổ nhọc đừng sờn

Song đường gánh vác tuyết sương bao vừa.

 

Gương Thoại Khanh còn chưa phai nhạt

Nước nghĩa tình còn mát ruộng tâm

Cỏ xanh nhờ nước nẩy mầm

Cho cây hiếu đạo âm thầm ra hoa.

Chồng trôi dạt đường xa thiên lý

Nàng Thoại Khanh chung thủy chờ chồng

Hiu hiu gió thoảng non bồng

Cô dâu phụng dưỡng mẹ chồng ngày đêm.

Nàng cõng mẹ đi tìm Châu Tuấn

Lướt dặm ngàn, thật xứng nàng dâu

Trèo non lướt cả rừng sâu

Đêm khuya gió lạnh, ve sầu oán than.

Đường khúc khuỷu, tay quàng cõng mẹ

Đói tê lòng, dám quản ngày đêm

“ Tìm anh như thể tìm chim

Chim bay biển Bắc, em tìm biển Đông

Dặm trường cát bụi gai chông

 Bởi quá thương chồng, đâu ngại đường xa”.

Một hôm nọ, bôn ba đường vắng

Mẹ thân già dãi nắng dầm sương

Nhớ con, khóc cả canh trường

Mù lòa hai mắt thảm thương giọt sầu.

Mẹ đói lả rừng sâu nhiều bữa

Nàng Thoại Khanh chan chứa niềm đau

Tự tay lóc thịt máu đào

Đỡ lòng cho mẹ máu trào tình thâm.

Nàng ngất xỉu thân nằm quằn quại

Vị thần kia thương hại thử lòng

Nếu cô muốn cứu mẹ chồng

Cho bà mắt sáng, phải đồng đổi trao:

Móc mắt cô thay vào mắt mẹ

Cô bằng lòng mau lẹ đưa ra

Thoại Khanh tâm địa thật thà

Ưng lòng lấy mắt thay qua mẹ mình.

Lòng nghĩa tử động tình hiếu thảo

Mắt sáng lòa, bà lão mừng vui

Thoại Khanh hương thoảng ngát mùi

Nàng dâu chơn thật dưỡng nuôi mẹ chồng.

Người xưa có tấm lòng như thế

Người hôm nay khá dễ tính so?

Bên cha mẹ ruột, mình lo

Bên chồng bên vợ liệu cho vẹn phần.

 

Đường du hóa có lần, Đức Phật

Thấy xương người chất ngất đống to

Dừng chân nói với các trò:

Thi hành đảnh lễ cái gò xương đen.

Ngài chỉ dạy: nhiều phen sanh tử

Đống xương người nam, nữ trộn chung

Có xương cha mẹ ta cùng

Nhiều đời nhiều kiếp, chập chùng tợ non.

Chúng ta đây là con là cháu

Nên tỏ lòng hiếu thảo tiền nhân

Lựa ra nam, nữ tỏ phân

Xương người, ai cũng có phần giống nhau.

A Nan hỏi: Làm sao phân biệt?

Phật dạy rằng: Nên biết thế này:

Đàn bà cực khổ, đắng cay,

Xương đen nhẹ xốp vì thai rút bòn,

 Sanh đẻ nhiều làm mòn xương tủy

Nên am tường cái lý phân ra

Đàn ông xương trắng nặng dầy

Sớm trưa lao nhọc, xương đầy cứng hơn.

 

Tình cốt nhục mười ơn khó đáp,

Ai xem thường, chẳng hạp luật thiên!

Ở đời tuy khổ triền miên,

Công lao cha mẹ truân chuyên tháng ngày:

 Ơn thứ nhất, mang thai chín tháng

Nỗi nhọc nhằn ngao ngán khó khăn

Thai hành khó ngủ, khó ăn

Nặng oằn trước bụng như chân bị cùm.

 Ơn thứ hai, lùm đùm tã lót

Nào phân dơ chẳng sót thứ chi

Nuôi con, cha mẹ được gì?

Chăm lo tắm rửa từng ly hàng giờ.

 Ơn thứ ba, con thơ bú mớm

Sữa mẹ đầy thân ốm, con no

Ráng ăn… dòng sữa đục ngò

Hai bầu sữa nặng phình to, mẹ mừng.

 Ơn thứ tư, kỳ công dạy dỗ

Tiếng đầu đời từng chỗ nên, hư

Tấm lòng của mẹ nhân từ

Tình thương cha cũng vô tư chan bằng.

 Ơn thứ năm, lo ăn lo học

Nào áo quần đùm bọc tuổi thơ

Tiếng lòng dệt những cung tơ

Mở khai trí tuệ con khờ nên danh.

 Ơn thứ sáu, sanh thành đau đớn

Con giẫy vùng, mẹ ớn thịt da

Công này của mẹ sanh ra

Công này chắc cũng tình cha hợp thành.

 Ơn thứ bảy, tập tành đi đứng

Ẵm, dắt dìu chập chững đầu đời

Nuôi con, cha mẹ chẳng rời

Trăm năm tình ấy khó dời lòng cha.

 Ơn thứ tám, xót xa con bệnh

Lo thuốc thang bịn rịn rát lòng

Chạy đôn chạy đáo phập phồng

Khi con mạnh khỏe, cha trông, mẹ mừng.

 Ơn thứ chín, mấy từng vun đắp

Lập gia đình xây cất tình thương

 Gả chồng dựng vợ đủ đường

An bề gia thất uyên ương sum vầy.

Ơn thứ mười, tạo gây sự nghiệp

Nào đất điền cho kịp chị, anh

Lo con, rồi cháu mới sanh

Cả đời cha mẹ còn dành chữ lo.

 

Ở xóm dưới buồn xo bà mẹ

Một mình bà cô lẻ tuổi già

Của tiền cho đến cửa nhà

Hoang sơ cạn kiệt nên bà sầu chăng?

Thuở còn trẻ, bà hằng in dấu

Kỷ niệm xưa ai thấu nỗi niềm

Nửa đời chăn ấm nệm êm

Xin thằng trai nhỏ hằng đêm bên mình.

Đứa con nuôi thật tình kháu khỉnh

Tuy có hơi bướng bỉnh tinh ranh

Cho ăn cho học rõ rành

Cơ ngơi giao phó một nhành chồi non.

Khi lớn lên, biết con người khác

Anh chàng này xử bạc mẹ nuôi

Về nhà mẹ ruột làm vui

Đem tiền đi hết, tới lui ít dần.

Cho đến lúc mười phần gia sản

Của mẹ nuôi kiệt cạn hết rồi

Anh ta bỏ mặc bà ngồi

Thương cho con trẻ lạc trôi dòng đời!

Bà chẳng tiếc cái thời thơ ấu

Trong lòng bà còn dấu niềm đau

Cái tình mẫu tử dạt dào

Tiền tài ruộng đất, bà nào so đo!

Công sanh đẻ tuy to như biển

Công dưỡng nuôi ngụy biện được sao?

Đạo đồng sanh, dưỡng như nhau

Hỏi ai khôn lớn, mẹ nào dưỡng nuôi ?

Từ tấm bé khó nguôi hình bóng

Chiều lại chiều trông ngóng con ai

Một hôm thấy chiếc quan tài

Hình bà mờ nhạt bên ngoài di môn.

Con như thế khó tồn nhân quả

Tội bất nhơn cho gã ác lòng

Trăm năm một kiếp tang bồng

Một đời lưu xú bụi hồng phân thây.

 

Gương Thúy Kiều xưa nay chưa nhạt

Thân má hồng trôi dạt đông sông

Giang hồ muôn dặm bụi hồng

Tuyết sương vùi dập, gai chông tơi bời.

Nàng liều mình vào nơi gió bụi

Bao năm trường lầm lũi gian truân

Từng đêm, lệ rỏ giọt thầm

Cứu cha, bán cả tuổi xuân má hồng.

Tuy gió bụi vào dòng hạ liệt

Con hiếu từ nữ kiệt đáp ơn

“Nhắn lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành”

Lòng hy sinh cao xanh chứng chiếu

Đó là người hiếu thảo quên mình

“Quyết tình nàng mới hạ tình

Giẽ cho tiện thiếp bán mình chuộc cha”

Là thân gái kiếp hoa còn vậy

Nếu mùi hôi che đậy cũng hôi

Hương thơm ai đẩy mà trôi?

  Phận trai cho tỏ than ôi ! nát lòng…

Làm cha mẹ, hóa công khéo tạo

Trả nợ đời, nợ gạo, nợ cơm


Lo cho chăn ấm nệm ôm

Bao nhiêu đòi hỏi,  lưng còm cha lo.

 

Phú hộ nọ giàu to nhất xứ

Lòng kiêu căng muôn sự diễn trò

Ai vay ông sẵn lòng cho

Nhưng mà phải nói liệu lo làm gì?

Vay tiền rồi làm chi để trả?

Đáp lời thông, ông khá cho vay

Nhiều người đi đến cầu may

Ngày qua tháng lại chẳng ai được tiền.

Anh chàng nọ người hiền thông thái

Vào sảnh đường thoải mái hỏi vay

Phú ông liền hỏi câu này:

Làm chi để trả nợ vay xem nào ?

Anh chàng bảo kiếp sau tôi trả

Ông đừng lo lỗ lã chi đâu

Kiếp sau tôi nguyện dãi dầu

Làm cha ông đó - mới cầu trả xong.

Mới nghe qua phú ông nổi giận

Nhưng tánh người cẩn thận hỏi ngay:

Trước sau người hãy tỏ bày

Đừng làm mặt láo biết tay ông à !?

Chàng trai kia thật thà phân tỏ

Chỉ làm cha mới có tấm lòng

Hy sinh tất cả cho ông

Làm con đòi nợ hết lòng cha lo.

Vì con phá của kho cũng hết

Phận làm cha đã kết mối oan;

Kiếp xưa vay của bạc vàng

Kiếp nay phải trả trần hoàn nợ nhau.

Nghe hữu lý lòng nào từ chối

Phú ông kia mở lối nhân từ

Đem tiền ban thưởng vô tư

Kiếp sau khỏi trả phụ từ, tử oan…

Câu chuyện đó ta càng suy nghĩ

Thân làm con đâu lý nợ đòi

Vì cha phải chịu thiệt thòi

Nuôi con chẳng tiếc than ôi, đừng lầm!

 

Ở đời dưỡng cái mầm Đạo Lý 

Nuôi mẹ cha đừng ỷ bạc tiền

Làm con đạo hiếu vi tiên

Một dòng máu đỏ thiêng liêng muôn đời.

 

Vợ chồng nọ lệ rơi thấm má

Gia cảnh nghèo phải tá túc con

Tuổi già tiêm lụn dầu mòn

Của tiền chẳng có nên còn tủi thân.

Tưởng đâu con đền ân cha mẹ

Ngỡ rằng công sanh đẻ đáp đền

Ỷ tiền, đạo lý hở hênh

Giằn mâm, xán chén, mông mênh nỗi buồn !

Như bố thí con luôn xử bỉ

Tuy đủ đầy khó nghĩ tình thương

Con ơi! vật chất chán chường

Mẹ cha cần chút tình thương con mình!

Đầy vàng bạc nhưng tình đã mất

Thì vàng kia đâu thật là vàng

Cao lương mỹ vị món sang

Nghẹn lòng cha mẹ nuốt càng thêm đau.

 

Lục Vân Tiên nêu cao tình trọng

Đang vác lều vác chõng đi thi

Tin hung chợt giữa đường đi

Mẹ già vừa mất hạ kỳ tháng qua.

Chàng họ Lục kêu ca thảm thiết

Đội khăn tang, ráo riết quay về

Xót thương tâm dạ não nề

Khóc mù cả mắt, ủ ê cả hồn.

Lòng hiếu thảo tử tôn mẫu biệt

Sương lạnh lùng tha thiết khói bay

Giọt sầu khóe mắt cay cay

Cái tình mẫu tử từ nay biệt trùng.

Đêm thanh vắng anh hùng nhỏ lệ

Đường gập ghềnh như thể chông gai

Mẹ già khuất bóng từ nay

Tiếng khôn tiếng dại hỏi ai bảo dùm?

Mất mẹ rồi hang hùm con bước

Biết cuộc đời mấy thước mà đo

Từ nay, con biết ai lo?

Bến sông hoang vắng, chiếc đò chơ vơ.

Cảnh nào bằng con thơ mất mẹ?

Cảnh nào bằng con trẻ mất cha?

Khẽ vèo chiếc lá bay qua

Bỗng đâu khúc hát ngân nga nặng tình

“Ví dầu cầu ván đóng đinh

Cầu tre lắt lẻo gập ghềnh khó đi

Khó đi, mẹ dắt con đi

Con đi trường học, mẹ đi trường đời”. 

 

Mùa đông về tả tơi hoa lá

Đâu mấy năm cảnh lạ người xa

Mới đây phút chốc tuổi già

Cháu con khôn lớn, ông bà biệt tăm…

 

Có người cha khi nằm hấp hối

Các con ông sớm tối tụ về

Biết ông cái chết cận kề

Bảo con cái đến dễ bề dạy khuyên.

Sợ con ông mê tiền, mê của

Giành giựt nhau gạo lúa, cửa nhà

Tranh ăn dẫn đến bất hòa

Nên ông tính kỹ lo xa, lẽ thường.

Từng chiếc đũa tỏ tường, ông bảo:

Bẻ dễ dàng con cháu thấy không ?

Hợp thành bó đũa so đồng

Dẫu ai mạnh sức khó lòng bẻ thay.

Bài học đó khuyên ai hãy nhớ

Đoàn kết nhau mạnh tợ chân kiềng

Tấm lòng cha mẹ lương hiền

Mong con hòa thuận đừng phiền anh em.

Trước khi chết còn xem gia cảnh

Lo cả đời cha rảnh được sao ?

Con nên, lòng mẹ ước ao

Con hư, cha mẹ quặn đau xé lòng.


Cha với mẹ chẳng mong báo đáp

Là phận con cho hạp luật trời

Chén cơm, manh áo tận nơi

Đừng làm việc xấu lệ rơi cha mình.

Mũi có dại như đinh bị sét

Lái chịu đòn như kẹt gò cao

Kẹt gò, thuyền lại chịu đau

Đinh mà bị sét thì mau thủng thuyền.

Lái chịu hết niềm riêng oan uổng

Mũi đi sai mới luống điều hư.

 

Thuở xưa có kẻ nhân từ

Phận cha đau khổ nát nhừ tâm can.

Con ăn trộm tay mang vai vác

Người đuổi theo kế sát một bên

Thằng con gặp chuyện không hên

Quăng đồ trộm được dưới nền sân sau.

Người đuổi bắt chạy vào nơi đó

Thấy đống đồ chỉ có người cha

Đau lòng cộng với xót xa

Nhận làm kẻ trộm để mà cứu con.

Lòng người cha tợ non tợ bể

Kẻ làm con khó thể thứ dung

Dẫu cho nghèo khổ khốn cùng

Cha nào bảo trộm, để dùng của kia.

Con ngỗ nghịch như đìa cạn nước

Cha thấm tình như thước để đo

Cá nhiều ít nước đục ngò

Thước nhân thước nghĩa để đo lòng người.

 

Mặt trời mọc đỏ tươi vừng sáng

Hướng đằng đông mây áng vừa tan

Đêm đen thấy thế kinh hoàng

Biến vào vô tận chứa chan ánh hồng.

 

Thời đức Phật, nhà ông đạo nọ

Hai mẹ con dòng họ Đà La

Mẹ ông nay tuổi đã già

Một hôm mua chuối về nhà treo lên

Ông đi vắng dưới nền chuối rụng

Mẹ của ông thấy cũng phát thèm

Bà ăn trái chuối lấm lem

Như là thỏa thích cơn thèm xưa nay.

Ông trở về thấy ngay chuối mất

Mắng mẹ mình sao thật thèm ăn

Bà già chẳng kịp tỏ phân

Ông liền nặng nhẹ la rân mẹ hiền.

Lòng dạ ông trách phiền bà mẹ

Ông nói rằng: thật lẽ không nên

Chuối này tôi định dâng lên

 Cúng dường Đức Phật đăng tên phước lành.

Ngày hôm sau trời xanh tươi đẹp

Ông đi vào khép nép cúng dường

Tỏa lòng bát ngát tình thương

Hào quang Đức Phật muôn phương phủ tràn.

Phật bảo ông: gia cang có Phật

Lòng dạ ông không thật cúng dâng

Tại nhà có Phật xác thân

Ngẩn ngơ xin Phật tỏ phân cạn cùng.

Lo vật thực mẹ dùng trước nhất

Phật tại gia, cao ngất ân tiền

Công lao nuôi dưỡng truân chuyên

 Hiếu nhân báo đặng, Đài Liên có phần.

Ông tỉnh ngộ định thần sám hối

Mẹ cha ta sớm tối bên ta

Mẹ hiền xin hãy thứ tha

Con nguyền trọn hiếu, mẹ là mẹ con.

 

Chữ hiếu kính chẳng tròn cha mẹ

Tu ngàn đời như kẻ chơi ngông

Một mình muốn tát nước sông

Tìm vàng đáy nước để mong làm giàu.

 

Đêm thanh tịnh ngàn sao le lói

Vũ trụ tràn bóng tối nhỏ nhen

Mỗi sao là một ánh đèn

Thắp lên xua đuổi bóng đen lâu đời.

 

Gương thánh nhân sáng ngời đạo hiếu

Nhắc đôi lời hòa điệu chuyện trò

Hương nồng bát ngát thơm tho

Hậu hiền ghi nhớ mà đo tấc lòng.

 

Địa Tạng Vương trần hồng bái lạy

Chuyện ngày xưa đã trải bao thân

Nhục thân Bồ Tát có lần

Sanh làm phái nữ muôn phần gieo neo

Mẹ cô mất, hồn theo mây gió

Lòng sầu buồn biết tỏ cùng ai!?

Hết lòng niệm Phật ăn chay,

Thí tiền, thí của, thí tài, thí công…

Nhờ phước ấy động lòng chư Phật

Mở tuệ quang sáng thất thiên minh

Đi tìm các nẻo hồn linh

Vào nơi địa ngục âm binh đọa hồn.

Nàng hỏi trưởng ngục môn người bảo :

Mẹ của cô - bà lão đăng tiên

Nhờ cô bố thí của tiền

Thoát vòng địa ngục, sanh liền thiên cung.

Lòng mừng vui khắp cùng trời nước

Cô nguyện thề cứu được bá gia

Khỏi nơi địa ngục Diêm La

Mới thành chánh quả, thật là thánh nhân !

Người đó là nhục thân Bồ Tát

Nơi u minh quản hạt Diêm cung

Ngày nay giáo chủ đại hùng

Độ hồn nê địa khắp cùng mười phương.

Con hiếu thuận tình thương cha mẹ

Quyết tu hành khỏi té bùn nhơ

Thấy đời đẹp tợ bài thơ

Cũng như tằm nọ nhả tơ đoạn trường.

Nàng Diệu Thiện trên đường tu học

Là công nương người ngọc liễu điều

Rời nơi cung điện thân yêu

Tịnh thiền năm tháng chắt chiu đạo lành

Nguyện trả ơn sanh thành dưỡng dục

Làm thuốc thang hồi phục bệnh cha

Chặt đi đôi cánh tay ngà

Đền ơn sanh dưỡng, thật là Ngọc Châu !

Chịu đau đớn canh thâu ngày nắng

Làm hao mòn da trắng buổi mai

Đắc thành pháp bảo Như Lai

Quan Âm Bồ Tát ngày nay hãn tường.

Bà hóa thân muôn phương cứu khổ

Niệm Quan Âm : Bà đến giúp liền !

Đại nhân, đại trí, đại hiền,

Quan Âm Diệu Thiện đắc thiền thần thông.

 

Ngược thời gian theo dòng đời bạc

Cây rừng còn bát ngát như xưa

Ngàn năm ngày tháng thoi đưa

Lâu đài thành quách nắng mưa điêu tàn.

Bóng tịch dương làn sương thu thủy

Chiều hoang vu chim súy tung bay

Muôn năm dồn lại một ngày

Tấm gương đại hiếu chưa phai nét vàng.

 

Mục Kiền Liên còn vang đạo hiếu

Chuyện ngày xưa giai điệu còn ngân

Thấy đời còn giả cả thân

Sớm còn chiều mất muôn phần thê lương.

Đời giấc nồng quỳnh tương giả tạm

Nơi cõi trần như trạm dừng chân

Ly gia cắt ái một lần

Theo chân Đức Phật muôn phần thảnh thơi.

Người xuất gia vào nơi an tịnh

Dùng thiền tông tảo bịnh mê si

Lục thông khai mở tức thì

Đắc A La Hán huyền vi hiển bày.

Dùng thiên nhãn tìm ngay thân mẹ

Thật nhiệm mầu mau lẹ phút giây

Xem trong ba cõi đủ đầy

Luân hồi sáu nẻo Đông Tây tỏ tường.

Chợt nhìn thấy thảm thương hồn mẹ

Sanh vào loài quỉ đói khổ đau

Bụng to chân cẳng khều khào

Uống ăn chẳng đặng, cồn cào rên la.

Dùng thần thông bay qua cõi ấy

Mang thức ăn, mẹ thấy vui mừng

Miệng vừa hé mở lửa bừng

Cháy thành tro bụi - nuốt chừng được đâu!

Quyết cứu mẹ tròn câu hiếu đạo

Ngài là con ngay thảo vẹn tuyền

Cầu xin Đức Phật chỉ truyền

Làm sao cứu được mẹ hiền mới cam.

Rằm tháng bảy, ông làm trai giới

Mười phương tăng vừa mới tụ về

Cúng dường, cầu nguyện đủ bề

Nương oai thần Phật, dựa kề phước duyên.

Bà mẹ ông sanh liền tiên cảnh

Nhờ mười phương Phật, Thánh, Hiền Tăng

Lòng bà nay đã ăn năn

Tự tâm chuyển hóa siêu thăng cảnh nhàn.

Người ở chốn trần hoàng học lấy

Lòng hiếu từ có thấy hay không?

Chén cơm cha mẹ no lòng

Cũng chưa báo đáp được xong ơn này.

Cứu cha mẹ khỏi ngay đường ác

Nơi Ta Bà sống thác đương nhiên

Nam mô đại hiếu Mục Liên,

Ngài là bồ tát tại miền thế gian!

 

Có cha, mẹ đến ngày tử biệt

Rước ồn ào đào kép lợi chi?

Đâm heo, giết thú ích gì?

Nặng thêm tội chướng, thế thì có nên?

Con cháu hãy tâm bền cầu nguyện

Trai giới nghiêm, rõ tiếng tụng kinh

A Di Đà Phật thương tình,

Từ bi tiếp dẫn vong linh thoát vòng…

 

Đời huyễn mộng, cầu mong Phật pháp

Trông xa xa ngọn tháp chùa nào

Tam Đồ vang tiếng thét gào

Ác  lai ác báo sóng trào biển đen.

 

Xá Lợi Phất ánh đèn trí tuệ

Tâm đại hùng xuất thế quang minh

Làm con tiếng ngọc đẹp xinh

Là A La Hán phàm tình khó suy.

Ngài xuất gia từ khi còn trẻ

Gót Ta Bà cứu kẻ hữu tình

Ngược xuôi ngàn dặm đăng trình

Khi thân sắp mất còn in lòng từ.

Biết mẹ ông tình như trói buộc

Tâm mê lầm sợ chuốc khổ đau

Nhưng lòng của mẹ thanh cao

Bảy con tu hết, lòng nào bà vui ?

Công khó nhọc dưỡng nuôi bảy đứa

Nhưng mình bà tựa cửa mong chờ

Trông con từng phút từng giờ

Biệt vô âm tín con thơ phương nào?

Sống cái cảnh sang giàu buồn tẻ

Bà một mình cô lẻ quạnh hiu

Vái van hương khói những chiều

Chư thiên thờ phượng nâng niu cõi trời.

Lòng tin Phật ở nơi tâm nhẹ

Lạy chư thiên thỏ thẻ khẩn cầu

Ra vào sớm tối ứng hầu

Lòng tin Tam Bảo có đâu nơi bà!

Xá Lợi Phất từ xa về đến

Thân mỏi mòn hổn hển tàn hơi

Kỳ này ông quyết tận nơi

Độ cho bà mẹ đến hơi cuối cùng.

Vì hôm trước ông dùng tuệ nhãn

Biết mẹ ông có chút duyên lành

Đền ơn dưỡng dục sanh thành

Niết Bàn sắp nhập, hiếu đành quên sao?

Đêm vừa đến, trên cao giáng xuống,

Các vị trời tâm muốn viếng ông

Hào quang tỏa sáng mênh mông

Đến nơi đảnh lễ chứng lòng cao thiên.

Mẹ của ông tình riêng dào dạt

Bỗng tâm bà dịu mát hỏi con:

Chư thiên còn phải lễ con

Chắc là Đức Phật - Ngài còn cao siêu ?

 Khởi lòng tin kính yêu Tam Bảo

Trong phút giây bà lão đắc thiền

Cúi đầu lạy Phật chỉ truyền

Lòng bà thanh thản, bình yên dạt dào.

Xá Lợi Phất Ngài vào tứ định

Nhập Niết Bàn pháp chính uy nghiêm

Cái gương hiếu tử khó tìm

Lưu truyền hậu thế, cổ kim khó bì .

 

Thân phàm phu ta suy cùng cạn

Đã bao đời làm bạn với ma

Quên công cha mẹ sinh ra

Theo tình, danh, lợi thiết tha cơ cầu.

Mẹ nhớ con giọt sầu muôn một

Cha thương con dạy tốt dạy nên

Biển trời bát ngát thênh thênh

Bao la trùm khắp, vang rền dư âm.

Ta tại sao để tâm tận hiếu ?

Mẹ cha ta dạy biểu nên người

Hy sinh bỏ chín làm mười

Chết thay con dại cũng cười cam tâm.

 

Có câu chuyện phục thầm, phân xử

Vụ giao tranh một xứ bên Tây

Tranh giành đứa bé ốm gầy

Có hai bà mẹ tại đây giựt giành

Sa Long Môn vua đành dụng kế

Xử thế này thật dễ lại đồng

Khó phân mẹ đẻ, luật công

Chia đôi đứa bé cho đồng đôi bên


Bà mẹ đẻ than rên từ khước

Nhường cho người cướp đứa con mình

Thương con thương cả thâm tình

Sợ con đau đớn, công bình ích chi?

Bà mẹ kia một khi thắng kiện

Dắt con đi trong tiếng cười vang

Nơi đây mẹ đẻ lệ tràn

Chưa rời khỏi cửa, vua can ngăn liền:

Người chẳng phải mẹ hiền đứa bé

Chẳng có công sanh đẻ đớn đau

Cho nên chẳng động lòng nào

Còn người mẹ ruột, lệ trào như mưa…

Trả lại con cho vừa lòng mẹ

Ôm vào lòng mẹ đẻ lạy vua

Đức vua xử kiện như đùa

Thiệt phân chánh lý, nhưng chua chát lòng.

Lòng mẹ rộng mênh mông trời biển

Bảo vệ con, thua kiện mất con

Miễn sao con trẻ vẹn tròn

Lòng hy sinh đó vẫn còn lưu vang.

 

Nhìn làn sao lang thang khắp nẻo

Sông Ngân Hà trong trẻo lưới giăng

Ơn cao Đức Phật ai bằng?

Cha chung tam giới sông Hằng còn in

Người trí đại quang minh cùng tột

Lũ Ma Vương thảng thốt phục tùng.

Thanh cao một bậc đại hùng

Dám lìa bỏ cả hoàng cung cứu đời.

Sĩ Đạt Ta đến nơi rừng vắng

Sông Ni Liên tươi tắn cành sen

Tham thiền xua đuổi đêm đen

Đắc thành Phật quả rọi đèn quang minh

Hiệu Thích Ca oai linh vũ trụ

Tám mươi năm an trụ cõi đời

Gót hồng bươn trải khắp nơi

Gieo truyền chánh pháp, đất trời chuyển rung

Lòng từ bi đến cùng cây cỏ

Thương nhơn loài tìm ngõ cứu nguy

Đưa người qua khỏi tham si

Niết Bàn tịch tịnh, cung ly bước vào

Đức Phật Tổ ánh hào chiếu diệu

Đến thân Ngài đạo hiếu còn lưu

Nhớ về La Vệ chiều thu

Phật Ngài báo đáp công phu cha mình.

Vua Tịnh Phạn thương tình con trẻ

Nhớ Phật Ngài cô lẻ buồn rầu

Năm canh dệt những cung sầu

Phật về quyết độ pháp mầu cho cha.

Vua Tịnh Phạn nghe qua lời pháp

Đạo đắc thành lãnh hạp cao siêu

Chơn thần hợp lại qui điều

Vào vòng tứ thánh thương yêu vạn loài.

Vua băng hà, chúa tôi xa cách

Lễ Trà tỳ tùng bách chia phôi

Di quan linh cữu buồn trôi

Chính vai Đức Phật đỡ ngôi quan tài.

Lòng hiếu tử đến nay chưa nhạt

Bóng hình Ngài che mát tam thiên

Đền ơn báo đáp mẹ hiền

Cung trời Đao Lợi pháp truyền độ xong.

Ơn Đức Phật mênh mông như bể

Cõi Ta Bà ai dễ sánh bằng?

Ngài còn giữ đạo hiếu hằng

Công ơn sinh – dưỡng, chan bằng tình thâm.

 

Nghĩ thân ta tháng năm khôn dại

Nguyện làm sao hối cải ăn năn

Tre già thì đẻ ra măng

Măng sao cho xứng là măng giống nòi.

Nhơn Trung Hiếu như chồi mọc thẳng

Nhơn bất nhơn như cẳng bị què

Đời này danh lợi phủ che

Ít ai chịu học, chịu nghe thánh hiền.

Người vì bạc, vì tiền, mất đạo

Người vì cơm, vì gạo, mất lòng

Đời nay đạo đức khó trồng

Những cây oan trái đầy đồng oan gia.

Nên khổ bậc làm cha, làm mẹ

Nên con là con trẻ hung hăng

Con vì manh áo miếng ăn

Con vì ích kỷ, tham, sân đủ điều

Đời “Tiến bộ” sao con xa mẹ?

Đời “Văn minh” sao dễ mất cha?

Ta vì quyền lợi riêng ta

Biết đâu cha mẹ thêm già vì con.

Đời buông thả chẳng còn phước đức

Có tiền nhiều mặc sức ăn chơi

Mặc cho cha mẹ lệ rơi

Thấy con lún xuống tận nơi đáy bùn.

Đời đâu phải là cùng là hết

Đời đẹp xinh, mỏi mệt đường xa

Suy câu nhân quả mà ra

Nghiệp chồng thêm nghiệp, xót xa chuyện đời.

Ai cũng có một thời danh vọng

Ai cũng từng dệt mộng tương tư

Mất câu hiếu đạo, nhơn từ

Nay gieo, mai trả, nhã nhừ ngày sau.

Người ơi! ráng rèn trau đạo hạnh

Hãy ghi lòng lời thánh hiền xưa,

 Xét suy tội lỗi hãy chừa,

Công sanh báo đáp bao vừa lòng con!

 

Đạo hiếu có vẹn tròn ba chữ

Cuộc đời này nam nữ lắng nghe

Mưa xuân rồi đến nắng hè

Ai thông mấy chữ - phước che mấy phần.

Lời bi thuyết du thần chứng chiếu

Lòng bi thương ai hiểu cạn cùng

Cúi đầu trên điện đại hùng

Cầu xin chư Phật bao dung thế trần.

*Nhất: hiếu kính mười phần báo trả

Trong cuộc đời bao ngả đường mê

Ở đời nhiều tiếng khen chê

Sao cho phải lẽ đừng xê đạo trời.

Cha với mẹ sống đời đâu được

Lúc sanh tiền, sau trước lo tròn

Chén cơm manh áo nhờ con

Miếng ăn thức uống vẫn còn đầy vơi.

Chăn với gối tận nơi hoạn dưỡng

Lúc bịnh đau phải hướng tâm vào

Thuốc men, nâng đỡ nhẹ nào

Bên cha, bên mẹ ốm đau đủ đầy.

Đừng tính toán, vì đây là Đạo

Phận làm con phải báo trọng ân!

Lo cho đầy đủ xác thân

Cũng còn chưa đủ, con cần nhớ thêm!

 

Phải nghĩ cạn nỗi niềm cha mẹ

Đừng làm gì trái lẽ luân thường

Đem lòng ôm ấp tình thương

Chớ làm mang tiếng gia đường tổ tông!

Con như thế mới hòng hiếu kính,

Cha mẹ rầy cũng nhịn cho vui

Cửa nhà êm ấm hương mùi

Mẹ cha thanh thản, an vui tuổi già.


*Chữ hiếu thuận thiết tha căn dặn

Là thân ta vượt chặng đường dài

Lo cho cha mẹ của tài

Hết lòng phụng dưỡng những ngày còn xanh

Khuyên cha mẹ việc lành gìn giữ

Việc ác gian phải cữ phải kiêng

Riêng ta quyết chí tu hiền

Qui y Tam Bảo tại miền thế gian.

Thọ ngũ giới gia cang vui đẹp

Đem phước lành dọn dẹp ác duyên

Hạnh lành bố thí thường xuyên

Noi theo thập thiện, Đài Liên hướng về.

Nguyện một kiếp phù đề giữ đạo

Nguyện làm người con thảo trò ngoan

Can ngăn những việc ác gian

Cầu trên chư Phật vén màn vô minh.

Lòng hiếu thuận thiên đình mở cửa

Giữ giới nghiêm nhà lửa thoát ra

Một lòng theo đạo Thích Ca

Giã từ cảnh khổ bôn ba bao đời.

*Tâm đại hiếu sáng ngời trời đất

Phận làm con xâu cất lo tu

Sớm chiều trì chí công phu

Đắc thiền, nhập định, thiên thu sống còn.

Tự ta tu mót bòn công đức

Quyết một lòng dụng sức khai minh

Vào trong đạo pháp oai linh

Mở khai cửu khiếu thiên kinh lãm tường.

Đem tất cả tình thương ban rải

Độ mẹ cha hối cải tu hành

Cả đời huân tập phước lành

Một đời tu niệm đắc thành đạo cao.

Người đi trước kẻ sau tầm lý

Để trở về huyền bí thâm sâu

Mẹ cha biết được đạo mầu

Nhờ con bắc một nhịp cầu đón đưa.

 

Người đại hiếu từ xưa đã ít

Người ngày nay mờ mịt đã nhiều

Trăm năm đạo pháp qui điều

Ngàn năm tồn tại thương yêu vĩnh tồn.

Đời vật chất hoàng hôn tiễn biệt

Đạo luân thường tha thiết mất đi

Đời người còn cái thây thi

Đạo là nẻo sáng, khỏi đi sáu đường.


Bước nghiệt ngã làn sương tam giới

Sóng cuộc đời chấp chới biển đen

Ai về đóng cửa cài then

Làm con trọn hiếu, chê khen mặc đời!

Hiểu được thế khó nơi nghiệp dẫn

Chừng biết ra quay quẩn Diêm Phù

Muôn năm kết vạn kẻ thù

Trả vay, vay trả, thiên thu vẫn còn.

Trở lại nhà làm con hiếu thuận

Thờ cửu huyền, sống xứng tiền nhân

Ăn năn, thức tỉnh hồn thần

Quy y Tam Bảo qua lần sông mê.

Trì ngũ giới, chán chê cõi tạm

Đạo luân thường níu bám mà đi!

Thứ tha, chớ để lại gì

Thương yêu nhơn loại khỏi đi lạc đường.

Đời ta lấy tình thương làm trọng

Luật trả vay như bóng theo hình

Thương người như thể thương mình

Tại gia tu niệm, công trình bia tên.

Thương cha me, dựng nền đạo đức

Có đức rồi mặc sức mà ăn


Đi đêm nhờ có ánh trăng,

Đời yên nhờ có đạo hằng Hiếu Trung!

 

Giờ thanh tịnh ung dung tiễn biệt

Gác bút nghiên khúc chiết mấy vần

Giáo lời ai tỉnh ngộ thần

Mai sau sẽ được muôn phần vinh quang.

Thấy cõi thế còn mang nhiều khổ

Hẹn tao phùng nơi chỗ nhàn thanh

Chuông chiều từng tiếng ngân nhanh

Tiễn người lữ khách tâm thành hiếu nhân.

 

Xin dứt bút, không trung nhạc trỗi

Tiếng sáo diều thơ thới sông Ngân

Hào quang tỏa sáng trong ngần

Chúc cầu Phật Tử tịnh thần tiến tu.


 

 Thay lời bạt


          Nếu nói núi kia cao, cũng không cao bằng công cha khó nhọc. Nếu nói biển kia rộng, cũng không bằng tình mẹ bao la, thăm thẳm nghìn trùng.


          Đầu đời hai tiếng mẹ cha nghe sao mà thân thương, gần gũi, sao mà sâu lắng thiêng liêng. Âm ba đó vang mãi, vang mãi, thênh thang vô cùng vô tận, lắng đọng tận đáy lòng của mỗi người con chúng ta.


          Cổ Đức có câu:

“Cha sinh ta, mẹ nuôi ta

Nhớ thương cha mẹ xót xa tấm lòng”


  Trong kinh Vu Lan có đoạn: “ Giả sử hai vai gồng gánh mẹ cha, vác khắp vòng hòn Tu Di, trải trăm ngàn kiếp như vậy cũng không đáp đền một phần nào ân nghĩa mẹ cha”. Thật to lớn làm sao, thật sâu nặng làm sao !


  Chỉ tâm niệm một điều, sống sao cho xứng đáng, để đền đáp phần nào ân nghĩa cù lao.


“Dẫu ta đi trọn kiếp người

                      Vẫn không đi hết những lời mẹ ru”                    

 “Ầu ơ… tháng bảy vào thu…

    Nhành hoa trên áo nguyện tu đáp đền” 

                                 

  Công ơn cha mẹ làm sao nói cạn, chỉ biết mượn những dòng thơ gởi gắm lòng mình.

 

Vu Lan, Phật lịch 2549 (Tây lịch 2005)

 

 

 

Chia sẽ:

GỬI BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN

CÁC TIN KHÁC