Buổi đầu khẩn hoang

Buổi đầu khẩn hoang
Buổi đầu thời khẩn hoang, tiền nhân ta với sự cần cù và mưu trí luôn tìm cách chinh phục, cải tạo, khắc phục những điều kiện bất lợi của môi trường, từ đó "sống chung" với thiên nhiên một cách bền vững, để lại cho đời sau vùng đất được xem là vựa lúa đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước, có lúa gạo xuất khẩu với sản lượng hàng đầu thế giới…


Đồng bằng Nam bộ hơn 300 năm về trước là một vùng đồng lầy hoang hóa, nước ngập lưu niên! Thời ấy, người ta gọi đất này là Thủy Chân Lạp, đối lập với Lục Chân Lạp là vùng đất có địa thế cao, ít ngập nước. Đến thế kỷ 17, đồng bằng Nam bộ vẫn là một vùng hoang vu, nhờ công của các chúa Nguyễn và những lưu dân người Việt đến định cư khai khẩn từ đầu thế kỷ 17 mà chúng ta có vùng đất trù phú ngày nay.

 

Khi xâm nhập, thám sát, khai thác dần tiến đến định cư lập làng xóm, ấp trại, tiền nhân ta - những người đi khẩn hoang - đã biết lợi dụng tài nguyên, sản vật sẵn có phục vụ sinh hoạt ăn ở, đời sống. Từ đó dần tiến đến cải tạo, chinh phục, biến những vùng đất hoang hóa, sình lầy trở thành những vùng canh tác màu mỡ, phì nhiêu.

 

 

Buổi đầu, người đi khẩn hoang thường dừng chân ở những rẻo đất cao, tương đối bằng phẳng, cạnh các con sông lớn. Việc đầu tiên là đốn cây dựng chòi. Lúc ấy, cây cối rất nhiều và khắp nơi như tràm, bần, trâm, sắn, gáo, chà là, lâm vồ, sộp, gừa, mắm, đước… Riêng cây dừa nước phát triển mạnh do đặc tính phát tán của chúng (trái dừa nước già rụng trôi theo nước lớn ròng đi khắp nơi, vướng lại những bãi bùn cạn dọc theo những con rạch, nẩy mầm và lớn lên; tiếp nối chu kỳ sinh trưởng và phát tán tiếp theo). Nhiều nghiên cứu cho thấy dừa nước đóng vai trò quan trọng trong buổi đầu khẩn hoang và đến nay vẫn còn giá trị:

 

- Lá dừa nước róc rời, chằm miếng để lợp nhà, chòi, trại…

 

- Cọng dừa nước sau khi đã róc sạch lá, đem phơi dùng đan bện làm vạt ngủ, kệ, bàn…

 

- Bụp dừa nước (phần gốc) được xước từng mảng, chẻ nhỏ, phơi héo làm dây cột, buộc (rất chắc).

 

- Đọt dừa nước chưa nở (cờ bắp) thường được dùng làm lạc dây để chằm lá, cột xống lá lợp nhà. Lá đọt dừa nước còn dùng để gói bánh lá dừa.

 

- Trái dừa nước như một nguồn thực phẩm.

 

- Mật lấy từ cuống hoa dừa nước có thể chế biến thành đường (như thốt nốt).

 

 

Có thể nói nhà, chòi, trại… được cất lên toàn bằng vật liệu tại chỗ.

 

Chuyện ăn uống cũng sẵn từ thiên nhiên. Nước uống múc dưới sông khi nước lớn. Người ta dùng chừng một nạm cây ô rô (loại cây thân thảo mềm có gai nhỏ quanh mình, mọc hoang khá nhiều theo mé, bãi các kênh rạch ở ĐBSCL), đánh vòng tròn như lóng phèn. Nước sẽ lắng trong veo trong vài phút. Củi để đun nấu có rất nhiều từ những cây, cành khô, mục, đổ ngã trong rừng. Về thức ăn thì khá phong phú với các loài rau hoang dã: rau mác (ăn bẹ và lá) trôi lình bình trên sông rạch (lúc ấy chưa có lục bình - bèo Nhật Bản), rau cốc kèn (ăn đọt) từng đám rậm rạp bò lan trên những lùm cây ven sông rạch, những cây lộc vừng (ăn đọt) sum suê lá mọc ở chỗ đất cao ven sông, rau dừa, rau ngổ, rau muống đồng xanh tốt ở các ao, lung đầm lầy… Xưa, tôm cá ở miền Tây nhiều vô số kể. Cá lóc sống ở các ao, đìa, mương vườn và đồng ruộng. Cá lóc trưởng thành lớn bằng cườm tay, có con sống lưu niên có thể to bằng bắp chuối chân người lớn. Cá rô thường sống trên đồng nước ngập, lớn bằng hai, ba ngón tay. Cá sặt ngụ cư trong mương vườn, ao chuôm, nơi nào cũng có. Tôm càng xanh sống ở sông rạch khắp nơi. Ngoài ra, trong môi trường nước ngọt của ĐBSCL còn có lươn, rắn, rùa, cua đinh, cá chạch, cá mè, cá ngát, cá lăng, cá thát lát, cá trê, ếch, nhái, các loại ốc… Bắt được tôm cá rồi, dân khẩn hoang làm chín thức ăn rất đơn giản nhưng hấp dẫn như nướng luộc, hấp… ăn kèm hàng trăm loại rau rừng hoang dã.

 

 

Một thời gian sau khi ổn định chỗ ở, vị trí khẩn hoang, cư dân mới bắt đầu khai khẩn, trồng trọt, chăn nuôi có chiều sâu.

 

Trước tiên là "lên liếp", tức đào mương, dùng đất đào đắp, tôn (nâng) bờ cao lên khỏi mực nước ngập hàng năm để có thể trồng trọt. Đất mới lên liếp thường xấu, có nhiều phèn, nhưng được phủ lên một lớp phân cỏ dày nên việc trồng trọt các loại rau quả ngắn ngày rất tốt. Thế là người khẩn hoang đã có các loại cây, rau truyền thống dễ trồng như: chuối, rau muống, rau lang, cà, ớt, rau om, bông súng, bạc hà, môn đúm, sả, rau răm… Cây cách (ăn lá) rất dễ trồng được ghim, cặm khắp nơi theo mé mương. Đất "liếp" sau nhiều năm được nước mưa "rửa phèn" cùng với sự chăm sóc, bồi đắp của lưu dân trở thành đất "thuộc", thích hợp canh tác, sản xuất nông nghiệp.

 

Con vật đầu tiên được người khẩn hoang đem theo và nuôi nấng là chó. Dần dà trong một xóm, có thêm gà vịt, ngan, ngỗng được nuôi để lấy trứng và thịt… Vậy là đã có tiếng chó sủa, gà gáy trong các xóm, trại, thôn lân.

 

Cây lương thực chủ yếu là lúa nước. Người ta trồng lúa trên những mảnh ruộng mới khai hoang. Lúa phát triển rất tốt nhờ lớp phân hữu cơ dồi dào cũng như lượng phù sa màu mỡ có sẵn. Tuy nhiên, khẩn hoang làm ruộng cũng lắm gian nan. Không may là khi gặp đất mọc toàn cây rán cao khỏi đầu, người ta dùng phảng chém gốc cho nó lật nguyên bụi xuống, lấn dũi từ ngoài vào trong, đợi khi có nắng, khô rồi đốt. Nếu gặp rừng lá dừa nước thì kể như may, bởi loại cây nầy thân mềm dễ phát, đốn. Gặp phải rừng chà là nhọc công nhất! Gai chà là dài và bén, đạp trúng nó gãy ngang, dính một phần trong thịt, nhưng được cái là chỉ trong đêm, vết thương làm mủ, đầu gai đen sì bật ra. Có một loại cây thấy dễ dọn mà không dễ là cây sặc (giống hệt lau sậy nhưng lùn hơn), bởi sặc nhảy con phát tán với tốc độ chóng mặt. Đám sặc chỉ bằng một chiếc chiếu trong vòng một tuần lễ có thể lan rộng ra cỡ nửa công đất (500 mét vuông). Nếu không bỏ nhiều công bứng tỉa thì lúc thu hoạch lúa, lưu dân sẽ có hơn chín chục phần trăm là bông sặc! Đất có cây lác mọc là đất tương đối màu mỡ, ngược lại, cây năng là biểu hiện của đất ngập nước bị nhiễm phèn nặng.

 

 

Dụng cụ lao động rất hiệu quả được sử dụng từ thời khẩn hoang còn lại đến ngày nay là cây "phảng" (hình dáng như một thanh dao dài chừng 0,7m, có cán cầm ngắn gần vuông góc với thanh phảng). Trong sách Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của liệt kê ba loại phảng: phảng gai, phảng giò nai và phảng cổ cò. Phảng gai dùng để phát hoang ở những vùng đất cao ráo hoặc để phạt cỏ bờ. Phảng giò nai và phảng cổ cò dùng để phát cỏ lác, cỏ năn ở ruộng sâu. Theo nhà văn Sơn Nam thì kỹ thuật dùng phảng phát cỏ làm ruộng xuất hiện từ thời khẩn hoang ở Nam bộ. Cây phảng là nông cụ sáng tạo độc đáo của tiền nhân ta dùng để khai phá hiệu quả vùng đất mới. Phảng luôn bén thì phát cỏ mới "ngọt", nhanh và ít tốn sức. Tư thế đứng và bước của người phát cũng phải được tập luyện. Chân trái phía trước, chân mặt phía sau, chém dao thứ nhất, bỏ chân sau qua bên trái đồng thời vung cây phảng lên cao để chuẩn bị rồi bỏ chân trước qua bên trái, chém nhát dao thứ hai ngay khi ngón chân cái vừa đặt xuống đất. Thực hiện thuần thục những động tác này sẽ làm cho hai dao chém xuống liền mí nhau, dọn sạch một vùng cỏ rộng.

 

Buổi đầu thời khẩn hoang, tiền nhân ta với sự cần cù và mưu trí luôn tìm cách chinh phục, cải tạo, khắc phục những điều kiện bất lợi của môi trường, từ đó "sống chung" với thiên nhiên một cách bền vững, để lại cho đời sau vùng đất được xem là vựa lúa đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước, có lúa gạo xuất khẩu với sản lượng hàng đầu thế giới…

 

Theo: Linh Mai


Chia sẽ:

GỬI BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN